Tiếp xúc với Giáo sư Vũ Minh Giang lần đầu tiên, điều gây ấn tượng với tôi là ông có đôi mắt sáng, vầng trán vuông vức và sự vững chãi, đàng hoàng, bao dung và nhân ái. Bạn bè, đồng nghiệp, học trò tìm thấy ở ông sự phóng khoáng, mạnh mẽ, quyết đoán, nghĩa hiệp, trọng tình và sự tin tưởng trong khí chất của bậc quân tử – cái khí chất của người Hải Phòng. Hiện ông là chuyên gia cao cấp và đang đảm đương các chức vụ Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQG Hà Nội, phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam…
Nối tiếp truyền thống yêu nước của gia đình
GS Vũ Minh Giang sinh ngày 27.5.1951 ở Đông Triều, nơi cha mẹ ông – những người sớm giác ngộ cách mạng, quyết tâm rời quê hương lên chiến khu tham gia kháng chiến. Bố ông quê xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên và mẹ ông là người xã Đông Phương, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Đến năm 1955, cậu bé Vũ Minh Giang theo song thân từ chiến khu Đệ Tứ về Hải Phòng. Mảnh đất quê hương ông chiếm giữ vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ từ biển vào Thăng Long – Hà Nội, là nơi quân và dân nước Việt đã từng làm nên những chiến tích lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm với các chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng dưới sự chỉ huy của Ngô Quyền (năm 938), của Lê Hoàn (năm 981) và của Trần Hưng Đạo (năm 1288). Hải Phòng – thành phố Hoa phượng đỏ, còn được biết đến như một hải cảng đầy sóng gió, một miền đất sâu đậm văn hóa từ xưa và là cái nôi nuôi dưỡng tinh hoa, sản sinh ra biết bao nhân tài cho đất nước như: Lê Chân, Mạc Đăng Dung, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Đức Cảnh, Tô Hiệu… Phải chăng văn hóa Hải Phòng đã tạo nên nét tính cách và khí chất nhà giáo, nhà khoa học Vũ Minh Giang thông minh, có chí hướng, mạnh mẽ, đứng đắn, trung thực, ung dung, dù ở bất kỳ cương vị nào giáo sư cũng luôn là con người đầy trách nhiệm.

Đam mê học hỏi tích lũy kiến thức
Năm 1968, sau khi tốt nghiệp phổ thông ông được chọn vào trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội, theo học ngành Lịch sử. Tại ngôi trường có bề dày bậc nhất Đông Dương này, ông may mắn được gần gũi và thụ học các bậc trí thức lớn, nhà khoa học đầu ngành của đất nước. Trong cuộc đời nhiều người chọn nghiệp cho mình nhưng trường hợp của ông lại là “nghiệp” chọn người. Việc ông ban đầu chưa thực sự chọn môn lịch sử làm nghiệp, nhưng rồi gắn bó và theo đuổi nó cả cuộc đời, có lẽ cũng là cái duyên “Trời định”. Ông tâm sự: “Ban đầu vì có nguyện vọng học toán nên khi được phân vào khoa Lịch sử tôi không thích lắm”. Thế rồi một phần bắt đầu từ lời khuyên của bố – một trí thức cách mạng, người đã từng phụ trách một tờ báo lớn, rằng: “Đã nằm trong chương trình đào tạo của một đại học lớn thì ngành nào cũng quan trọng. Điều quan trọng là con có phấn đấu để vươn lên đỉnh cao của ngành đó hay không mà thôi…” Nhưng mặt khác, do được nhúng sâu vào lịch sử, ông càng thực sự yêu ngành khoa học này. Ngày ấy, trong mắt bạn bè, chàng sinh viên Vũ Minh Giang là người ham đọc sách, giỏi hùng biện với lối nói dí dỏm, trí tuệ và rất mê đá bóng. Anh nhanh chóng trở thành trò yêu của các bậc đại thụ như: thầy Phan Huy Lê, thầy Trần Quốc Vượng, thầy Hà Văn Tần… các thầy tâm huyết truyền kiến thức, truyền lửa cho trò, trò không phụ công các thầy, đam mê và tận lực với ngành học. Đầu năm 1972, trên sân trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, giữa hàng trăm sinh viên chia tay thầy cô, bạn bè và mái trường thân yêu lên đường ra trận có sinh viên năm cuối Vũ Minh Giang, khi ấy anh đang ở tuổi 21. Vào chiến trường đúng lúc cuộc chiến đang trong thời kỳ khốc liệt, đối mặt giữa sự sống và cái chết, ông nói “Khi ấy chỉ nghĩ đến lý tưởng, đến việc phải làm gì cho đất nước…”. Có lẽ, ông cũng như một trong những người lính sinh viên của Trường Đại học Tổng Hợp tham gia cuộc chiến, tâm sự: “Tôi và đồng đội chiến đấu không chỉ giải phóng miền Nam mà còn để bảo vệ chính trường Đại học Tổng hợp của mình, bảo vệ ngôi trường mà sau chiến tranh chúng tôi sẽ trở về học tiếp”.
Năm 1974, theo sự phân công của lãnh đạo, ông trở lại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội làm cán bộ giảng dạy ở khoa Lịch sử. Vượt qua cuộc sống eo hẹp, khó khăn, của giảng viên những năm thời bao cấp, ông lao vào học tập, nghiên cứu say mê như để bù lại khoảng thời gian đã mất trong quân ngũ. Sau khi thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có tầm nhìn chiến lược sớm, có chủ trương đúng đắn trong việc chọn và cử những cán bộ ưu tú đi học tập ở nước ngoài. Đối tượng được đi đào tạo, bồi dưỡng chọn lọc kỹ. Là một trong những cán bộ trẻ vừa có năng lực, vừa có kinh nghiệm, giảng viên Vũ Minh Giang đã được cử đi làm nghiên cứu sinh ở Trường Tổng Hợp Quốc gia Moskva mang tên Lômônôxốp – một trường đại học danh tiếng trên thế giới, biểu tượng của trí tuệ nước Nga. Nơi đây đã sản sinh ra cho xứ sở bạch dương nhiều nhân vật kiệt xuất, là niềm tự hào của người Nga cũng như của những sinh viên Việt Nam đã và đang học tại ngôi trường này. Học trong trường, ông được những người thầy uyên bác, đôn hậu nhưng đặc biệt nghiêm khắc về khoa học hướng dẫn tận tình, chu đáo. Với chuyên ngành Lịch sử kinh tế, ông thể hiện là một nghiên cứu sinh có năng lực và chiều sâu kiến thức, được các giáo sư quý mến và đánh giá cao. Chính tại môi trường học tập và nghiên cứu lý tưởng này, ông đã học được những phương pháp nghiên cứu hiện đại áp dụng cho khoa học lịch sử. Ở Việt Nam khi ấy toán thống kê và phân tích định lượng là những phương pháp rất mới đối với khoa học xã hội nói chung và khoa học lịch sử nói riêng, đã được ông vận dụng vào luận án khoa học của mình. Năm 1985, ông đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sỹ. Sau đó, ông được chuyển tiếp lên làm thực tập sinh cấp cao và bảo vệ thành công luận án tiến sỹ khoa học ngay một năm sau (1986). Đó là một thành tích không mấy nghiên cứu sinh làm được. Không chỉ tiếp thu kiến thức chuyên môn, những người học ở Nga còn được trang bị một tâm nhìn xa. GS Vũ Minh Giang thường tâm đắc với câu nói của một viện sỹ từng làm Hiệu trưởng trường. Đại học Lômônôxốp: “Điều cốt yếu của một đại học là tầm nhìn của đại bàng”. Trong quan niệm của người Nga, chim đại bàng là biểu tượng cho tầm nhìn xa, sức mạnh và lòng can đảm. Được học tại Đại học Lômônôxốp không chỉ là niềm tự hào mà còn trở thành một thương hiệu. Quả thực là danh bất hư truyền. Những người được đào tạo từ ngôi trường này phần lớn đều đã trở thành những con người kiệt xuất, có nhiều đóng góp lớn lao cho đất nước như: GS Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu, GS Viện sỹ Đặng Vũ Minh, GS Viện sỹ Nguyễn Văn Đạo, GS Viện sỹ Đào Trọng Thi…

Cống hiến hết mình cho nghiên cứu khoa học và quản lý
Năm 1986, ông trở về nước tiếp tục giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và được giao làm Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Việt Nam Cổ – Trung đại, cương vị mà trước đó các nhà sử học nổi tiếng như GS. Đào Duy Anh, GS. Phan Huy Lê đã từng đảm nhiệm. Từ năm 1988, do yêu cầu công tác, ông đảm đương các chức vụ quản lý, bắt đầu là phó, sau là chủ nhiệm Khoa Lịch sử kiêm phó giám đốc (sau là GĐ) Trung tâm Hợp tác nghiên cứu VN và Giao lưu văn hóa; Phó Tổng thư ký, sau là Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN. Sau này, bằng những nỗ lực cống hiến và tài năng của mình, ông đã được giao đảm nhiệm nhiều cương vị khác nhau từ chủ nhiệm bộ môn, đến Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội (2002 – 2012), Phó Bí thư thường trực Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội (2007 – 2011). Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQG Hà Nội, phó Chủ tịch Hội đồng Di sản văn hoá Quốc gia ,phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Cùng với những đề tài thuộc lĩnh vực khoa học lịch sử nghiên cứu đạt tới độ chuyên sâu, ông đã mở rộng ra các lĩnh vực nghiên cứu mang tính liên ngành cao cả trên lý luận và thực tiễn. Sau khi về nước, ông triển khai những hướng nghiên cứu khoa học chính như: Chế độ ruộng đất – kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn; Lịch sử hệ thống chính trị, Nhà nước và Pháp luật Việt Nam; Các vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu; Nghiên cứu Khu vực học và Việt Nam học… Ngay từ công trình khoa học cấp Bộ đầu tiên với đề tài: Quan hệ của ba nước trên bán đảo Đông Dương trong tiến trình lịch sử (năm 1987), ông đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá cao và tặng bằng khen. Sau đó, từ năm 1993 đến năm 2015, ông liên tục được tín nhiệm giao chủ trì nhiều đề tài cấp Nhà nước. Hệ thống chính trị trong lịch sử Việt Nam, Sự hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ từ cội nguồn đến thế kỷ VII… Những kết quả nghiên cứu của các đề tài này thành công đã góp phần vào việc xây dựng và phát triển đất nước, khẳng định được chủ quyền và lãnh thổ của đất nước. Trong mấy năm gần đây, ông được tín nhiệm giao tham gia thực hiện Đề án khoa học trọng điểm cấp Nhà nước Nghiên cứu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam. Cho đến nay ông đã công bố hàng trăm công trình khoa học có giá trị ở trong và ngoài nước, trong số đó phải kể đến những cuốn như lược sử vùng đất Nam Bộ – cuốn sách do ông chủ biên là công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao, góp phần xây dựng luận cứ khoa học về chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ, được ĐHQGHN trao giải công trình khoa học tiêu biểu năm 2009, Lịch sử Việt Nam truyền thống và hiện đại, được trao giải thường KHCN của Đại học Quốc gia Hà Nội… Ngoài ra, trong nhiều năm làm nghiên cứu khoa học, ông đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức nhiều hội thảo có giá trị mang lại tiếng vang với các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Ông đã tham gia nhiều Hội đồng hoạch định những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước như Hội đồng Quốc gia giáo dục, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Chính sách Khoa học & Công nghệ Quốc gia, Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước, Phó Chủ tịch hội đồng cấp Nhà nước xét giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ… Dù ở vị trí công tác nào, ông cũng thể hiện tâm huyết và trình độ cao của một nhà nghiên cứu chuyên sâu và tinh thần đẩy trách nhiệm.
Ông là nhà khoa học có ý thức rất rõ về vai trò đi tiên phong trong nghiên cứu, nhằm có được những cơ sở khoa học đầy đủ, vững chắc để giải quyết và minh chứng các vấn đề thực tế yêu cầu. Ngay từ năm 1998, ông đã cùng với GS Phan Huy Lê, GS Đoàn Thiện Thuật bắt tay xây dựng ngành Việt Nam học ở Việt Nam. Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa được xây dựng và là nòng cốt cho việc tổ chức 4 Hội thảo quốc tế về Việt Nam học mà ông giữ vai trò là Trưởng ban Thư ký và Trưởng ban Tổ chức. Đây là tiền đề cho sự ra đời của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển sau này. Thực tiễn phát triển của Viện trong hơn chục năm qua đã minh chứng về vai trò cần có của Viện đóng góp vào tiến trình phát triển chung, cả trong hoạt động nghiên cứu và trong công tác đào tạo, nhất là đào tạo sau đại học với những vấn để liên ngành về Việt Nam. Ông là người luôn tự vận động không mệt mỏi, ở các lĩnh vực mà ông tham gia đều thấy ông có hứng thú nghiên cứu rất đặc biệt.

Người thầy đáng kính của nhiều thế hệ học trò
Có thể nói ngay từ những ngày đầu được nghiệp sử học “chọn”, ông đã gắn bó đời mình với nghề làm thầy, nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý. Ở ông có phẩm chất của một người thầy, phẩm chất của nhà nghiên cứu và dù cho phổ hoạt động rất rộng nhưng dù hoạt động trong lĩnh vực nào ông cũng giữ vững trong mình một NGƯỜI THẤY. Trong con mắt của học trò, Ông là người có uy của một người thấy mẫu mực, đáng kính. Không thể kể hết bao nhiêu nghiên cứu sinh đã được ông tận tình hướng dẫn, chỉ bảo. Các vấn để khoa học lịch sử được ông gợi mở, hướng dẫn cặn kẽ, đồng thời các học trò cũng học được từ người thầy của mình một tư duy có hệ thống, logich chặt chẽ.
Ông nghiêm túc với bản thân và yêu cầu các thế hệ học trò của mình cũng như vậy. “Cõi học là mênh mông”, ông ở bên các học trò của mình để giúp họ học tập theo một cách vừa tận tình vừa nghiêm khắc. Nhưng trên tất cả, họ hiểu con người thầy, họ ngưỡng mộ và kính yêu ông. Ông gần gũi họ trong công việc, trong cuộc sống. Những lúc vui họ tìm ông, những khi cuộc sống gặp trắc trở họ cũng tìm đến ông như một chỗ dựa tinh thần, ấm áp và tin cậy. Ông coi nghề làm thầy là sự nghiệp, là hạnh phúc và cũng là trách nhiệm đối với thế hệ trẻ. “Với tôi, người thầy, nghề giáo nói chung có hai điều thiêng liêng nhất phải có, đó là tâm huyết với nghiệp làm thây của mình và phải quan tâm tới chuyện mình là thế nào trong mắt các học trò” – ông chia sẻ – “Nếu ai cũng tâm niệm điều đó, chắc chắn ngành giáo dục sẽ thay đổi nhiều. Các thầy cô đều hiểu học trò của mình cân cái gì, nếu có tâm huyết, họ sẽ có những hiến kế, để xuất hay cho ngành. Còn nếu quan tâm tới hình ảnh của mình trong mắt học trò, họ sẽ biết tự sửa mình để làm thấy cho đáng làm thấy”. Trong số các học trò của ông, nhiều người đã thành danh và không ít vẫn được ông tận tình giúp đỡ và đã trở thành đồng nghiệp, cộng sự đắc lực của ông. Không chỉ giảng dạy ở trong nước, ông còn được mời thỉnh giảng ở nhiều trường đại học danh tiếng nước ngoài như ĐH Tokyo (Nhật Bản), ĐH Berkeley (Hoa Kỳ), ĐH Paris VII (Pháp). Tâm huyết của ông với nghề còn thể hiện ở sự trăn trở, ở những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo trong nhà trường. Ông là người khởi xướng và chỉ đạo công tác đổi mới tuyển sinh theo theo hướng đánh giá năng lực người học của ĐHQGHN từ nhiều năm trước. Đây thực sự là một bước bứt phá thể hiện vai trò đầu tàu, tiên phong của ĐHQGHN cho ngành giáo dục nước nhà. Ngay đối với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay, ông cũng đưa ra những ý kiến, quan điểm rõ ràng, cụ thể và gắn với thực tiễn, với xu hướng phát triển của thời đại và có những đóng góp thiết thực.

GS TSKH Vũ Minh Giang là người đọc nhiều, hiểu sâu và uyên bác trong nhiều lĩnh vực. Kho kiến thức của ông dồi dào tới mức cho mọi người cảm giác không khi nào khai thác hết. Tiếp xúc với ông, đọc các công trình nghiên cứu của ông, ta thấy một Vũ Minh Giang: đĩnh đạc, tự tin, sắc sảo, nghiêm túc, tinh thần trách nhiệm, ý thức về những trang viết, ý thức với nghề làm thầy của mình, đàng hoàng chính trực. Năm 2010, trước thềm Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, một trong những hoạt động học thuật lớn nhất, duy nhất và thiết thực nhất trong Đề án được Thủ tướng phê duyệt là Hội thảo quốc tế Hà Nội học với chủ đề: Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng bền vững trong bối cảnh biến đổi toàn cầu. ĐHQGHN được tin tưởng giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực tổ chức Hội thảo. Và ông đảm nhiệm vai trò trưởng ban tổ chức hội thảo ý nghĩa này. Hội thảo đã thành công tốt đẹp, được lãnh đạo Đảng và Nhà nước đánh giá cao. Trong những năm gần đây, khi vấn đề biển Đông và cuộc đấu tranh về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đòi hỏi ngày càng cao sự góp sức của các nhà sử học, ông đã dồn hết tâm sức vào sự nghiệp này với những bài viết và hoạt động có tính chiến đấu cao. Đặc biệt là công trình Cơ sở học về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ, được giới chuyên môn trong và ngoài nước đánh giá cao. Hiện nay, với tư cách là Phó Chủ nhiệm đề án cấp Nhà nước, ông cùng với nhiều nhà sử học đầu ngành đang tập trung công sức cho việc xây dựng một công trình Lịch sử Việt Nam. Đây là Bộ quốc sử lớn nhất từ trước tới nay bao quát bộ lịch sử Việt Nam, từ thời nguyên thủy cho đến hiện nay. Bộ Quốc sử có quy mô lên tới 25 tập thông sử và 5 tập biên niên sự kiện, ông đang tập trung cao độ để dồn trí tuệ và sức lực cho công trình khoa học để đời này.
Hơn 40 năm cống hiến cho sự nghiệp GD&ĐT và NCKH, đã xấp xỉ tuổi 70 nhưng ông không hề biết đến nghỉ ngơi. Với độ chín của một nhà khoa học đầu nghành ông vẫn miệt mài với các vấn đề nghiên cứu vừa có tính học thuật, vừa có tính thực tiễn cao mà độ khó, độ gợi mở, định hướng… đòi hỏi sự nhạy cảm và uyên bác. Vẫn miệt mài lên lớp truyền kiến thức, truyền lửa cho các thế hệ người học từ cấp cán bộ nguồn của Trung ương, thành phố Hà Nội đến nghiên cứu sinh của các trường đại học danh tiếng trong và ngoài nước. Tiếp tục cống hiến tận tâm, tận lực cho các vấn đề lớn của đất nước… Là người thấy có kiến thức uyên bác, phong cách đĩnh đạc, khúc triết và hùng biện trong diễn thuyết, ông đã mang lại sự hấp dẫn “mê hoặc” trong các giờ giảng, trong các buổi thuyết trình ở các sự kiện lớn. Nhen lên trong lòng người nghe tình yêu đối với môn Lịch sử, sự quan tâm, hứng thú đối với những vẫn để sau khi đã được nghe ông nói. Với những đóng góp to lớn đó trong sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy, GS. TSKH Vũ Minh Giang đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng những phần thường cao quý như: Huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba; Được Thủ tướng Chính phủ ba lần tặng bằng khen; Được Chính phủ Pháp tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm. Năm 2017 ông được Chủ tịch nước ký tặng danh hiệu Nhà Giáo Nhân dân cao quý.
Thực tế hơn 40 năm công tác và phục vụ cho sự nghiệp GD&ĐT đã khẳng định vai trò và năng lực của ông cả trong đào tạo, trong NCKH và các lĩnh vực văn hóa xã hội của đất nước. Nhắc đến ông là nhắc đến một trong những nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành về lịch sử và một số chuyên ngành trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục. Con người ông là thế, khí chất đàng hoàng, trung thực, tư duy của một nhà khoa học, một học giả xuất sắc: sắc sảo, thận trọng, chặt chẽ, logich, nhìn nhận vấn đề nhanh, sâu, kiến giải thấu đáo bằng cái tâm của người làm khoa học chân chính. Dường như lớp trí thức “vàng” thế hệ ông đều có phẩm chất này. Quê hương Hải Phòng, vùng đất cửa biển cho ông sự mạnh mẽ, quyết đoán, trọng nghĩa, trọng tình. Môi trường quân ngũ rèn cho ông đức kiên trung, sự nghiêm khắc. Ngôi trường đại học Tổng hợp Moskva danh tiếng, trung tâm hàng đầu của thế giới về đào tạo, nghiên cứu các lĩnh vực quan trọng nhất của khoa học hiện đại, một trong những trường ĐH hàng đầu thế giới, trường có tới 11 người đoạt giải Nobel và 5 huy chương Fields, rất nhiều viện sỹ, các chính trị gia hàng đầu, và các nhà văn nổi tiếng cũng xuất thân từ ngôi trường này… đã trang bị cho ông kiến thức ban đầu cũng như phương pháp tư duy để ông trở thành một trong những nhà khoa học đầu ngành thành danh và có “uy”, có nhiều đóng góp cho đất nước. Ngôi trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội với mấy chục năm gắn bó đã rèn đúc nên một người thầy uyên thâm và đáng kính Vũ Minh Giang. Và trên tất cả là những đóng góp lớn lao của ông cho đời trên tất cả những lĩnh vực công tác ông đã trải qua là phần thưởng lớn nhất mà ông có được, không nhiều người làm được như vậy. Gần một đời người đã đi qua, vẫn một Vũ Minh Giang hết lòng, tận tâm với công việc, chân thành, bao dung, chữ ĐẠO và ĐỜI giữ trọn, ngay thẳng với chính mình, “được sống đúng là mình” như GS.NGND Vũ Minh Giang vẫn thường tâm niệm.
Trích nguồn :Sách 100 giáo sư Việt nam trọn đời cống hiến.











